Đặc điểm lâm sàng của chứng loét chân ở những người bị Gút mãn tính

Đặc điểm lâm sàng của chứng loét chân ở những người bị Gút mãn tính

Bệnh gút (gout) là bệnh phổ biến nhất trong các dạng bệnh khớp do tăng acid uric gây ra. Trong đó tophi là phần mềm dưới da thường xuất hiện ở vị trí các khớp, khuỷu tay hoặc mắt cá chân… trong phản ứng viêm với tinh thể monosodium urat (MSU) và hiện diện trong khoảng 12-35% bệnh nhân gút (gout) (1,2).

Sự hiện diện của các u cục tophi tác động đến nhiều khía cạnh cuộc sống của bệnh nhân, bao gồm tạo ra các cơn đau gút, hạn chế khả năng vận động, trầm trọng hơn có thể gây biến dạng khớp và các biến chứng như nhiễm trùng và loét (1,3-6).

Các vị trí tổn thương do viêm gút (gout) bị hoại tử có thể dễ dàng bị nhiễm trùng, đặc biệt là dạng nhiễm trùng huyết hoặc nhiễm trùng loét tophi thường phải được chỉ định phẫu thuật (7).

Ngay cả sau khi phẫu thuật đầy đủ và kiểm soát nhiễm trùng, bệnh nhân vẫn phải đối mặt với những rủi ro liên quan đến phẫu thuật, đặc biệt là việc chữa lành vết thương kém và hiện tượng nhiễm trùng. Tuy nhiên, các yếu tố nguy cơ gây loét tophi ở những bệnh nhân bị bệnh gút (gout) đến nay vẫn chưa được tìm hiểu rõ. Do đó nhiều nghiên cứu đã được thực hiện nhằm điều tra các yếu tố nguy cơ gây loét trên tophi ở những bệnh nhân bị bệnh gút (gout) có khả năng xảy ra nhằm ngăn ngừa tối đa nguy cơ phát sinh hiện tượng nguy hiểm này.

Đặc điểm lâm sàng của chứng loét chân ở những người bị Gút mãn tính

Tổng số 131 bệnh nhân liên tiếp đáp ứng được tiêu chuẩn thu nhận và được ghi danh vào nghiên cứu này. Kết quả cho thấy, những người già hơn thường dễ bị loét, có thời gian mắc tophi dài hơn, có kích thước tophi lớn, loét thường xuyên hơn ở bàn chân. Trong phân tích đơn biến, hiện tượng loét tophi có liên quan đến tuổi tác, kích thước, vị trí tophi và việc chăm sóc vùng khớp viêm kém.

Đặc điểm lâm sàng của chứng loét chân ở những người bị Gút mãn tính

Trong phân tích hồi quy logistic, tuổi tác, kích thước, vị trí tophi và việc chăm sóc vùng khớp viêm được liên kết độc lập với hiện tượng loét trên tophi.

Đặc điểm lâm sàng của chứng loét chân ở những người bị Gút mãn tính

U cục tophi lại là một biểu hiện của hiện tượng tăng acid uric máu kéo dài, không kiểm soát được và kết quả từ sự lắng đọng của tinh thể urat trong các mô mềm, gân, xương và khớp (1, 8). Theo thời gian, tophi sẽ kéo theo việc làm tổn thương nặng nề và gây biến dạng khớp. Sự hiện diện của tophi cũng có liên quan đến bệnh suất bao gồm chất lượng cuộc sống bệnh nhân gút (gout) ngày càng kém hơn, đòi hỏi việc tăng cường sử dụng các nguồn lực chăm sóc sức khỏe hỗ trợ (1,9). Sự phân hủy mô nằm sâu ở tophi cũng có thể dẫn hiện tượng tiết dịch dai dẳng và gây loét mãn tính. Những tổn thương gút (gout) do loét hoại tử này làm tăng nguy cơ bị vỡ mô và trì hoãn sự hồi phục khớp (9).

Bệnh nhân cao tuổi thường có nhiều yếu tố tác động hơn, chẳng hạn như tiểu đường, tăng huyết áp và bệnh tim. Mặc dù những bệnh đi kèm này không được bao gồm trong mô hình hồi quy, nhưng tất cả đều có ảnh hưởng tiềm tàng đến sự hình thành vết loét tophi.

Một báo cáo một nghiên cứu về đặc điểm lâm sàng của loét chân ở những người bị bệnh gút (gout) mạn tính (10), cho thấy những người bị ảnh hưởng chủ yếu là đàn ông lớn tuổi có thời gian bị bệnh gút (gout) dàivà hầu hết đều mang giày dép kém chất lượng. Nghiên cứu này cũng phát hiện ra rằng việc thiếu chăm sóc khớp viêm độc lập với loét trên tophi, do đó việc theo dõi cẩn thận những người bị loét do gút (gout) cần được bảo đảm.

Các trường hợp tương tự đã được báo cáo ở những người bị loét chân có viêm khớp dạng thấp hoặc viêm thận (11–13). Các loét trên tophi thường khác nhau. Khi các u cục tophi trở nên lớn hơn, phần da che phủ thường bị kéo dài và mỏng đi, từ đó dễ gây ra hiện tượng loét. Dựa trên kết quả này, các nghiên cứu cho thấy tophi có thể trở nên loét thường xuyên hơn khi có kích thước lớn và chịu ma sát liên tục.

Đặc điểm lâm sàng của chứng loét chân ở những người bị Gút mãn tính

Trong nghiên cứu này, hầu hết bệnh nhân (77- 8%) bị loét ở bàn chân, bao gồm cả khớp xương đùi, khớp mắt cá chân… những vị trí này thường dễ xuất hiện các vết loét hơn. Nhiễm trùng tophi rất hiếm khi xảy ra nếu vùng da nằm ngang nguyên vẹn.

Các nghiên cứu trước đây cũng đã chứng minh rằng nồng độ urate huyết thanh cao và chức năng thận suy giảm là những yếu tố nguy cơ quan trọng cho việc gây ra các tổn thương tophi (14,15). Chiến lược điều trị hiệu quả các u cục tophi là điều trị hạ acid uric dài hạn để đạt được nồng độ urate huyết thanh đủ thấp để hòa tan tinh thể MSU. Trong nghiên cứu này, urate huyết thanh, eGFR và liệu pháp hạ urate không phải là yếu tố nguy cơ gây loét tophi. Các yếu tố nguy cơ chính gây loét tophi vẫn là tuổi tác, kích thước tophi và vấn đề chăm sóc vùng khớo viêm. Trong đó dự đoán rằng, ma sát là nguyên nhân chính gây loét tophi. Do đó, đối với bệnh nhân gút (gout), đặc biệt là người có u cục tophi, để điều trị thành công cần tập trung điều trị hạ urate dài hạn để giảm thiểu kích thước tophi và tăng cường bảo vệ khớp viêm để tránh ma sát trong cuộc sống hàng ngày.

Tài liệu tham khảo

  1. Khanna PP, Nuki G, Bardin T, Tausche AK, Forsythe A, Goren A. Tophi and frequent gout  ares are associated with impairments to quality of life, productivity, and increased healthcare resource use: results from a cross-sectional survey. Health Qual Life Outcomes 2012;10:117.
  2. Puig JG, de Miguel E, Castillo MC, Rocha AL, Martinez MA, Torres RJ. Asymptomatic hyperuricemia: impact of ultrasonography. Nucle- osides Nucleotides Nucleic Acids 2008;27:592–5
  3. Schumacher HR Jr, Becker MA, Palo WA, Streit J, MacDonald PA, JosephRidge N. Topheaceous gout: quantitative evaluation by direct physical measurement. J Rheumatol 2005;32:2368–72.
  4. Rome K, Supervalli D, Sander S, Sanders A, McQueen FM, McNair P, Dalbeth N. Functional and biomechanical characteristics of foot dis- ease in chronic gout: a case control study. Clin Biomech (Bristol, Avon) 2011;26:90 – 4.
  5. Lee SJ, Nam KI, Jin HM, Cho YN, Lee SE, Kim TJ. Bone destruction by receptor activator of nuclear factor kappa B ligand-expressing T cells in chronic gouty arthritis. Arthritis Res Ther 2011; 13:R164.
  6. Filanovsky MG, Sukhdeo K, McNamara MC. Ulcerated tophaceous gout. BMJ Case Rep 2015;5:423–7
  7. Kumar S, Gow P. A survey of indications, results and complications of surgery for tophaceous gout. N Z Med J 2002;115:U109
  8. Brook RA, Forsythe A, Smeeding JE, Lawrence Edwards N. Chronic gout: epidemiology, disease progression, treatment and disease burden. Curr Med Res Opin 2010;26:2813–21
  9. McQueenFM,ChhanaA,DalbethN.Mechanismsofjointdamagein gout: evidence from cellular and imaging studies. Nat Rev Rheumatol 2012;8:173 – 81
  10. Rome K, Erikson K, Otene C, Sahid H, Sangster K, Gow P. Clinical characteristics of foot ulceration in people with chronic gout. Int Wound J 2016;13:209 – 15
  11. Kaminski MR, Raspovic A, McMahon LP, Strippoli GFM, Palmer SC, Ruospo M. Risk factors for foot ulceration and lower extremity ampu- tation in adults with end-stage renal disease on dialysis: a systematic review and meta-analysis. Nephrol Dial Transplant 2015;30:1747 – 66.
  12. Siddle HJ, Firth J, Waxman R, Nelson EA, Helliwell PS. A case series to describe the clinical characteristics of foot ulceration in patients with rheumatoid arthritis. Clin Rheumatol 2012;31:541–5.
  13. gút (gout)man AB. The past four decades of progress in the knowledge of gout, with an assessment of the present status. Arthritis Rheum 1973;16:431 – 45
  14. Dalbeth N, House ME, Horne A, Taylor WJ. Reduced creatinine clearance is associated with early development of subcutaneous in people with gout. BMC Musculoskelet Disord 2013;14:363.
  15. Lu CC, Wu SK, Chen HY, Chung WS, Lee MC, Yeh CJ. Clinical characteristics of and relationship between metabolic components and renal function among patients with early-onset juvenile tophaceous gout. J Rheumatol 2014;41:1878 – 83.